Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Thạc sỹ - Luật sư: Trương Thành Thiện

Công ty Luật TNHH PATLAW

1900.6815

Tổng đài tư vấn
Tìm kiếm

Tổng quan về Quy tắc xuất xứ hàng hóa theo quy định của pháp luật Cộng đồng Asean (Phần 1)

  • 07/08/2019
  • 110 Lượt xem
  • Admin

1. Dẫn nhập

Với mong muốn thành lập Cộng đồng ASEAN ổn định, hòa bình, thống nhất và năng động. Hiến chương ASEAN đã xác định rõ ba mục tiêu về an ninh – chính trị, về kinh tế, về văn hóa xã hội.

Trong đó, về mặt kinh tế mục tiêu mà cả Cộng đồng hướng đến là xây dựng thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất với sự ổn định, thịnh vượng, khả năng cạnh tranh và liên kết kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, bao gồm sự chu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ và dòng đầu tư, di chuyển thuận lợi của các doanh nhân, người có chuyên môn cao, người có tài năng và lực lượng lao động, sự chu chuyển tự do hơn các dòng vốn. Để làm được điều đó sau khi chính thức được thành lập 2003, Cộng đồng kinh tế ASEAN tiếp tục kế thừa, đẩy nhanh và hoàn thành các chương trình, sáng kiến kinh tế hiện có như việc tập trung nâng cấp ba trụ cột hiện tại là Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN – AFAS và Khu vực đầu tư ASEAN – AIA.

Đối với Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), mục tiêu cơ bản của AFTA là tiến hành tự do hóa thương mại hàng hóa trong nội khối ASEAN bằng cách loại bỏ tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường khu vực bằng cách tạo ra thị trường thống nhất, thúc đẩy phân công lao động trong nội khối và phát huy lợi thế so sánh của từng nước.

Ngày nay, để bắt kịp xu hướng toàn cầu hóa bên cạnh việc nâng cấp Khu vực thương mại tự do AFTA bằng Hiệp định ATIGA (có hiệu lực 17/5/2010). AEC còn hướng tới loại hình khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn phải giữ vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ kinh tế đối ngoại như trong đàm phán về thương mại tự do (FTAs).

Khu vực mậu dịch tự do (FTA) được hình thành khi hai hay nhiều nước thực hiện bãi bỏ tất cả thuế xuất nhập khẩu và tất cả các hạn ngạch đối với thương mại hàng hóa giữa các nước này nhưng vẫn giữ nguyên thuế quan đối với các nước khác. Khi một nhóm nước hình thành khu vực tự do thương mại riêng thì tất yếu hàng nhập khẩu của các nước ngoài khu vực lợi dụng nước trong khu vực như một trung gian để đưa hàng vào thay vì đưa trực tiếp thì sẽ chịu thuế suất cao hơn rất nhiều. Hoặc là, các nhà sản xuất từ ngoài khu vực có thể né tránh thuế quan cao bằng cách xây dựng nhà máy thực hiện công đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất ở nước thành viên có thuế quan thấp, sau đó xuất khẩu sang các nước thành viên khác có thuế quan cao hơn.

Để hạn chế việc này buộc các nước thành viên phải có khả năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa từ Khu vực mậu dịch tự do và từ các nước khác (thông qua việc kiểm tra chi tiết xuất xứ hàng hóa nhập khẩu). Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc ban hành các quy định xác định xuất xứ hàng hóa.

2. Khái quát về Quy tắc xuất xứ hàng hóa

Xuất xứ hàng hóa là quốc tịch của một hàng hóa hay nói khác hơn là nguồn gốc của một loại hàng hóa cụ thể.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì: “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa đó”

Còn quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp những quy định của pháp luật và quyết định hành chính để xác định các quốc gia xuất xứ của hàng hóa.

Ví dụ: Thay vì mặt hàng lúa gạo Việt Nam khi thương nhân thu mua và xuất sang Philippin thì phải làm chứng chỉ xuất xứ C/O nhưng nếu Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn muốn hỗ trợ đầu ra cho nông dân thì Bộ có thể ủy quyền cho một tổ chức đại diện thu mua rồi xuất sang Philippin thì sẽ có một Quyết định hành chính và quyết định này chứng minh hay khẳng định nguồn gốc mặt hàng nông sản được sản xuất 100% tại Việt Nam thì không cần phải làm chứng chỉ C/O.

Chung quy lại các quy định pháp lý về xuất xứ hàng hóa chỉ có mục tiêu chung là nhằm xác định quốc gia mà hàng hóa “thực sự” được thu hoạch hoặc sản xuất, gia công chế biến tại đó.

Vậy ngoài việc xác định xuất xứ hàng hóa để tránh tình trạng hàng hóa từ các nước khác lợi dụng chính sách giảm thuế của các quốc gia thành viên thì nó còn có vai trò gì khác hay không?

Với việc xác định được xuất xứ của một loại hàng hóa cụ thể ngoài vai trò tránh thất thu thuế còn hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi hàng “Trung” mang xuất xứ hàng “Thái” việc xác định xuất xứ làm cơ sở để áp thuế chống bán phá giá và trợ giá, và một số vai trò sau:

+ Giúp việc thống kê thương mại và duy trì hệ thống hạn ngạch

Từ việc xác định được chính xác xuất xứ hàng hóa giúp các quốc gia nhập khẩu có được số liệu thống kê chính xác từ đó có thể đưa ra được hạn ngạch chính xác về một loại hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia mình.

+ Xúc tiến thương mại

Quy tắc xuất xứ hàng hóa được sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu (nó giúp nhà xuất khẩu xây dựng được uy tín, thương hiệu của mình), từ đó có khả năng mở rộng việc xuất khẩu và xúc tiến thương mại.

Những văn bản pháp lý điều chỉnh về xuất xứ hàng hóa của ASEAN được phân bố trong nhiều Hiệp định chứ không nằm trong cùng một văn bản cụ thể nào, không giống như WTO, khi thành viên khác gia nhập thì phải tuân thủ theo các quy định trong Hiệp định do WTO ban hành nhưng đối với ASEAN thì ngược lại ASEAN muốn mở rộng phạm vi thương mại tự do với quốc gia ngoại khối nào thì sẽ ký hiệp định với quốc gia đó.

Hiện nay các văn bản điều chỉnh về xuất xứ hàng hóa của ASEAN bao gồm: Hiệp định thương mại hàng hóa 2010 (ATIGA); Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa các quốc gia thành viên hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản (AJFTA); Hiệp định về thương mại hàng hoá thuộc hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa các chính phủ các nước thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và nước Đại Hàn Dân Quốc (AKFTA)Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Úc và Niu Di lân (AANZFTA) , Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA) Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Nhật Bản (AJFTA)

Mỗi hiệp định FTA đều có quy tắc xuất xứ riêng để bảo đảm hàng hóa nếu đáp ứng các quy tắc xuất xứ sẽ được hưởng các ưu đãi thuế quan của các nước thành viên dành cho.

Trong các hiệp định FTA của các nước ASEAN, về cơ bản, các quy tắc  xuất xứ trong các hiệp định này đều có cấu trúc tương đối giống nhau.

Nên phần nội dung phân tích về các quy định pháp lý cơ bản quy tắc xuất xứ hàng hóa, tác giả sẽ lấy Hiệp định ATIGA làm trọng tâm để phân tích, đồng thời chỉ ra điểm khác biệt giữa các hiệp định FTA về quy tắc xuất xứ trong phần phân tích.

3. Nội dung pháp lý cơ bản của quy tắc xuất xứ hàng hóa

Về quy tắc xuất xứ, ATIGA kế thừa toàn bộ Bộ quy tắc xuất xứ đã được sửa đổi và quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Hiệp định CEPT/AFTA, ngoài tiêu chí xuất xứ thuần tuý, cộng gộp với 40% hàm lượng khu vực đã được quy định như trước đây, các quy định về chuyển đổi mã số thuế, quy tắc xuất xứ cụ thể được quy định linh hoạt hơn nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc cam kết nội khối phải tương đương hoặc thuận lợi hơn so với cam kết dành cho các nước đối tác trong các khu vực mậu dịch tự do ASEAN cộng. ATIGA cũng quy định về việc thành lập Tiểu ban về Quy tắc xuất xứ chịu trách nhiệm đám phán và giám sát việc thực thi các cam kết về Quy tắc xuất xứ trong ATIGA.

Các nội dung cơ bản liên quan đến quy tắc xuất xứ hàng háo trong các Hiệp định thương mại của Asean chủ yếu gồm:

3.1 Quy định về các khái niệm

3.2 Quy định về tiêu chí xuất xứ

3.3 Quy định về công đoạn gia công và chế biến đơn giản

3.4 Quy tắc “De-minimis”

3.5 Về thủ tục cấp và kiểm tra chứng nhận xuất xứ

Khoản 14, Điều 3 Luật Thương Mại 2005

Trong các trường hợp khi hàng hóa của một nước khác ngoài khu vực phá giá tại thị trường nước mình, thì quốc gia có thể xác định được xuất xứ của hàng hóa đó từ đó có các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả.

AKFTA đã được ký bởi các lãnh đạo tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốc lần thứ 9 vào ngày 13/12/2005.

AANZFTA được ký kết tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 vào ngày 27/02/2009 tại Hua Hin, Thái Lan. Hiệp định này có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/01/2010.

ACFTA được ký kết ngày 29/11/2004 tại Lào, tiếp đó Biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam-Trung Quốc ký ngày 18/7/2005 tại Trung Quốc (MOU). Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.

AIFTA hay  được ký ngày 13 tháng 08 năm 2009 tại Thái Lan.

AJFTA ký ngày 3 tháng 4 năm 2008 và có hiệu lực thực hiện ngày 15/8/2008.

Trên đây là nội dung trao đổi về một số nội dung cơ bản về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo pháp luật Cộng đồng Asean; Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ chúng tôi qua các phương thức sau:

  1. Hotline Tư vấn: 1900.6815 - Phòng Pháp lý Doanh nghiệp: 1900.6815 (1) - Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính: 1900.6815 (2)
  2. Email: luatsu@patlawhcm.com
  3. Bạn có thể gửi hồ sơ hoặc trực tiếp đến Công ty Luật TNHH PATLAW. Địa chỉ: Số 11 đường số 2 - Khu đô thị Vạn Phúc 1, Khu phố 5, Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trân trọng./.

Người viết: Tr.Anh – (Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính)  

Liên hệ tư vấn

Lưu ý: Trước khi nhập thông tin Quý khách vui lòng tham khảo Chính sách bảo mật Thông tin Khách hàng được đăng tải trong Phần Giới thiệu của Patlaw.
Hoặc liên hệ hotline: 1900.6815