Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Thạc sỹ - Luật sư: Trương Thành Thiện

Công ty Luật TNHH PATLAW

1900.6815

Tổng đài tư vấn
Tìm kiếm

Tổng quan về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định ATIGA (Phần cuối)

  • 07/08/2019
  • 167 Lượt xem
  • Admin

3.3 Quy định về công đoạn gia công và chế biến đơn giản

Theo đó, Điều 31 Hiệp định ATIGA quy định: Những công đoạn gia công chế biến dưới đây, khi được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau được xem là giản đơn và không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hoá:

(a) bảo đảm việc bảo quản hàng hoá trong tình trạng tốt khi vận chuyển hoặc lưu kho;

(b) hỗ trợ cho việc gửi hàng hoặc vận chuyển; và

(c) đóng gói hoặc trưng bày hàng hoá để bán.

Hàng hóa có xuất xứ của một QGTV vẫn giữ nguyên xuất xứ ban đầu khi nó được xuất khẩu từ một QGTV khác nơi các công đoạn được thực hiện không vượt quá những công đoạn gia công, chế biến đơn giản quy định tại khoản trên của điều này.

Việc quy định những công đoạn gia công chế biến nào được coi là đơn giản để loại trừ khi áp dụng tiêu chí xuất xứ hàng hóa RVC nhằm đảm bảo xuất xứ hàng hóa được xác định một cách tương đối chính xác, hạn chế trường hợp các nhà sản xuất của quốc gia ngoại khối lợi dụng chi phí này để làm thay đổi hàm lượng xuất xứ ASEAN hoặc làm mất đi hàm lượng xuất xứ ASEAN.

Về quy định này, các Hiệp định ATIGA, ACFTA thiết lập theo hướng nguyên tắc chung còn các Hiệp định AKFTA, AJFTA thiết lập theo hướng liệt kê còn Hiệp định AANZFTA vừa quy định nguyên tắc chung và liệt kê. Điều đó cho thấy không có sự thống nhất trong hướng ban hành quy định giữa các hiệp định với nhau.

Việc áp dụng quy định đối với một số tiêu chí xuất xứ cũng có những khác biệt trong một số hiệp định. Trong một số trường hợp, công đoạn gia công đơn giản không áp dụng đối với tiêu chí xuất xứ RVC (40) nhưng áp dụng đối với tiêu chí CTC. Nhưng một số trường hợp khác, công đoạn gia công đơn giản lại áp dụng cả hai tiêu chí RVC và CTC. Việc có sự khác biệt này dẫn tới việc khác biệt về tiêu chí xuất xứ trong Quy tắc cụ thể mặt hàng.

3.4 Quy tắc “De-minimis”

Quy tắc “De-minimis” được áp dụng cho hàng hóa áp dụng tiêu chí xuất xứ chuyển đổi mã số HS (CTC) không đạt. Theo đó, một sản phẩm không đạt được sự chuyển đổi mã số HS sẽ vẫn được coi là có xuất xứ nếu giá trị của tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ dùng để sản xuất ra sản phẩm đó (chỉ những nguyên liệu không có mã số hàng hoá giống với mã số hàng hoá của sản phẩm đó) không vượt quá 10% của tổng giá trị hàng hoá đó tính theo giá FOB.

Ví dụ như trong Hiệp định AANZFTA đối với hàng dệt may từ chương 50 đến chương 63, ngưỡng tối đa cho nguyên vật liệu phi xuất xứ là 10% tính theo trọng lượng sản phẩm hoặc hoặc tính trên giá trị của nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa không đạt tiêu chí xuất xứ chuyển đổi mã HS. Ngưỡng 10% được gọi là ngưỡng De-minimis.

Quy định này được các nước tham gia đàm phán đưa vào nhằm làm giảm bớt sự khó khăn cho việc đạt tiêu chí xuất xứ, hoặc để giải quyết khi hàng hóa có “sự cố” không đạt được xuất xứ ví dụ như khi hàng hóa mà chỉ trùng mã HS với nguyên liệu không có xuất xứ ở một tỉ lệ rất nhỏ. Việc giải quyết này sẽ khiến cho nhà sản xuất cảm thấy được đối xử một cách công bằng hơn bởi không chỉ vì bị trùng mã HS một phần trăm rất nhỏ nào đó mà hàng hóa của họ lại không được công nhận xuất xứ.

Ngoài ra, hàng hóa phải đáp ứng tất cả các điều kiện khác về xuất xứ quy định tùy theo từng Hiệp định cụ thể.

Tuy nhiên, khi áp dụng tiêu chí RVC cho một sản phẩm, giá trị của nguyên liệu không có xuất xứ nêu trên vẫn phải được tính vào giá trị nguyên liệu không có xuất xứ khi xác định RVC theo công thức .

  

RVC =

Giá FOB Giá trị của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ[1]

  

x 100 %

———————————————————————–Giá FOB

Đối với quy tắc này trong hiệp định ACFTA và AIFTA, ngưỡng de minimis chưa được áp dụng. Về cơ bản, các hiệp định đều có những áp dụng riêng về cách thức tính de minimis (trọng lượng hoặc trị giá) cho các sản phẩm dệt may hoặc sản phẩm không phải là dệt may với tỉ lệ là 10%. Riêng trong Hiệp định AJFTA, một số mặt hàng đối với Nhật Bản được áp dụng ngưỡng trị giá thấp hơn 10% và cũng trong hiệp định này, một số sản phẩm không được áp dụng de minimis.

3.5 Về thủ tục cấp và kiểm tra chứng nhận xuất xứ

Theo quy định tại Điều 38, hiệp định ATIGA 2009: “Để được cho hưởng ưu đãi về thuế quan, hàng hoá phải có Giấy chứng nhận xuất xứ (Mẫu D), như được nêu trong Phụ lục 7 (Mẫu D) do cơ quan Chính phủ có thẩm quyền được Quốc gia Thành viên chỉ định cấp và thông báo tới các Quốc gia Thành viên khác theo Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ nêu tại Phụ lục 8 (OCP)”.

Đối với trường hợp C/O giáp lưng[2], đây là quy định nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, đặc biệt trong các trường hợp chia tách lô hàng, bán một phần lô hàng vào nước nhập khẩu trung gian, phân phối tiếp một phần lô hàng sang các nước thành viên tiếp theo. Bằng quy định này, hàng hóa có xuất xứ trong khu vực duy trì được tình trạng xuất xứ của nước xuất khẩu ban đầu, tránh được tình trạng mất xuất xứ tại nước thành viên trung gian bằng cách cho phép tổ chức cấp C/O của nước trung gian được cấp C/O giáp lưng. Một trong những điều kiện quan trọng để được cấp C/O giáp lưng là hàng hóa vẫn nằm trong kiểm soát của cơ quan Hải quan nước nhập khẩu trung gian và C/O gốc ban đầu vẫn còn hiệu lực.

Các Hiệp định AANZFTA, AKFTA, AJCEP, ATIGA, AIFTA đều có quy định về C/O giáp lưng với các điều kiện về cơ bản giống như nêu ở trên. Hiện nay, C/O giáp lưng chỉ được cấp một lần trên cơ sở C/O gốc. Trường hợp nước nhập khẩu cuối cùng có nghi vấn về C/O giáp lưng, nước này có thể tiến hành kiểm tra đối với nước xuất khẩu trung gian đã cấp C/O giáp lưng, thậm chí kiểm tra đối với nước xuất khẩu ban đầu để đảm bảo tính xác thực về xuất xứ của lô hàng.

Riêng Hiệp định ACFTA, khái niệm C/O giáp lưng chưa được hình thành. Trong những phiên đàm phán gần đây giữa ASEAN và Trung Quốc về việc sửa đổi OCP trong khuôn khổ hiệp định ACFTA, quy định về C/O giáp lưng đã được đưa vào phần sửa đổi.

Trong trường hợp có nghi ngờ về xuất xứ của lô hàng nhập khẩu, nước thành viên nhập khẩu có quyền yêu cầu nước thành viên xuất khẩu kiểm tra tính xác thực của lô hàng. Trường hợp không thỏa mãn với kết quả kiểm tra, nước nhập khẩu có quyền yêu cầu được kiểm tra tại nước xuất khẩu. Quy định này nhằm đảm bảo thỏa mãn tối đa quyền kiểm tra xuất xứ của nước nhập khẩu trước khi khẳng định lô hàng nghi vấn có xuất xứ hay không.

Trong một số trường hợp, hàng hóa được sử dụng để triển lãm. Nhưng sau đó, những hàng hóa này được bán trong quá trình triển lãm. Do vậy, quy định về hàng hóa được sử dụng triển lãm là cần thiết để đảm bảo có thể được hưởng ưu đãi thuế quan. Hiện nay, hầu hết các quy tắc xuất xứ đều có quy định này, ngoại trừ quy tắc xuất xứ trong hiệp định AANZFTA. [3]

Tự chứng nhận C/O[4], với xu hướng tự do hóa thương mại thì Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng đến cơ chế tự chứng nhận xuất xứ.

Nếu được Bộ Công thương chấp nhận thì thương nhân được quyền tự khai báo xuất xứ của hàng hóa trên hóa đơn thương mại hoặc bất kỳ chứng từ nào khác thay cho C/O hiện hành.

So sánh với cơ chế cấp C/O truyền thống thì cơ chế tự chứng nhận xuất xứ doanh nghiệp có thể chủ động về thời gian phát hành C/O, nhờ đó sẽ tiết kiệm thời gian và thủ tục đơn giản và tiết kiệm chi phí cho Doanh nghiệp, thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và đầu tư giữa các nước. Với cơ chế này, Doanh nghiệp không phải tự đi xuất xứ cho từng lô hàng xuất khẩu, mà có thể sử dụng quyền tự chứng nhận xuất xứ cho nhà nhập khẩu một cách chủ động mà không cần phải mất thời gian chờ đợi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Kể từ ngày 05/10/2015 Thông tư 28/2015 quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN có hiệu lực. Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn thí điểm cớ chế tự chứng nhận C/O. Vinamilk vinh dự được chọn là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong ASEAN, với  mã số tự chứng nhận 0001/TCNXXHH. Theo chứng nhận tự cấp xuất xứ hàng hóa trong ASEAN này, Vinamilk được quyền tự cấp chứng nhận xuất xứ.

Doanh thu xuất khẩu của Vinamilk 10 tháng đầu năm 2016 đạt 4.662 tỉ đồng (tương đương 208 triệu đô la Mỹ). Vinamilk đã và đang xuất khẩu đến 43 quốc gia trên khắp 5 khu vực châu lục, và khu vực Châu Á hiện tại là khu thị trường tập trung mạnh của Vinamilk.

Cũng theo Thông tư số 28/2015/TT-BCT thay vì phải đi xin cấp C/O, các doanh nghiệp có thể tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu D cho hàng hóa xuất khẩu của mình.

Để được lựa chọn doanh nghiệp tham gia thí điểm tự chứng nhận xuất xứ thì doanh nghiệp đó phải đạt được các tiêu chí như: (i) phải là nhà sản xuất đồng thời là người xuất khẩu hàng hóa do chính thương nhân sản xuất; (ii) không vi phạm quy định về xuất xứ trong 2 năm gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký; kim ngạch xuất khẩu đi ASEAN được cấp C/O mẫu D năm trước liền kề đạt tối thiểu 10 triệu USD; (iii) có cán bộ được đào tạo, được cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận về xuất xứ hàng hóa do đơn vị đào tạo được Bộ Công Thương chỉ định cấp.[5]

Xuất xứ là kỹ năng rất quan trọng của các doanh nghiệp thương mại. Nếu hiểu và làm chủ được vấn đề xuất xứ, các nhà sản xuất Việt Nam có thể tận dụng được các FTA hiện có và sắp ra đời. Đáng chú ý, việc tự chứng nhận xuất xứ này sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn đầu tư tốt.

Do vậy, nếu các doanh nghiệp không nỗ lực giải quyết các vấn đề về xuất xứ thì sẽ không tiếp cận được các chính sách ưu đãi và không thể mở rộng được hoạt động xuất khẩu .

Trong tương lai, cơ chế tự chứng nhận xuất xứ sẽ là xu hướng tất yếu của thế giới. Do vậy, các doanh nghiệp cần hành động kịp thời để theo kịp xu hướng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế này có thể tạo điều kiện cho gian lận thương mại nếu chế tài chưa đủ mạnh và người áp dụng cơ chế chưa đủ kiến thức cũng như thông tin cần thiết liên quan đến xuất xứ hàng hóa.

Việc thực hiện cơ chế này sẽ là thách thức đối với nhiều doanh nghiệp, vì không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ.

Các doanh nghiệp không chứng thực được khả năng tự khai và tự chứng nhận xuất xứ sẽ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu. Trước hết là ở việc không nhận được những ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Đây cũng là một vấn đề khiến cho các doanh nhỏ và vừa trăn trở, bởi liệu hơn 900.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có tại Việt Nam, với sức xuất khẩu không cao thì có được chứng thực khả năng tự chứng nhận xuất xứ hay không, hay sẽ chịu thiệt thòi khi vẫn phải thực hiện quy trình chứng nhận C/O như cũ. [6]

Đại diện Bộ Công Thương cũng cho biết, nhằm hỗ trợ DN có thể áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, Bộ Công Thương sẽ tổ chức các khóa đào tạo huấn luyện cho các DN. Đồng thời, sẽ chạy song song cả 2 cơ chế cấp C/O nếu DN không thể tự cấp C/O vẫn có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp C/O cho mình.

[1] Giá trị nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ là:

(i) Giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của hàng hoá hoặc thời điểm nhập khẩu được chứng minh; hoặc

(ii) Giá xác định ban đầu trả cho hàng hoá không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của Quốc gia Thành viên nơi diễn ra hoạt động sản xuất hoặc chế biến

[2] “C/O giáp lưng” là C/O được cấp bởi Nước thành viên xuất khẩu trung gian dựa trên C/O của Nước thành viên xuất khẩu đầu tiên (khoản 3, Điều 1, Phụ lục VII Thông tư số 22/2016/TT-BCT)

[3] http://www.trungtamwto.vn/cachiepdinhkhac/khac-biet-ve-quy-tac-xuat-xu-trong-cac-hiep-dinh-fta-cua-asean

[4] Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa là việc thương nhân tự khai báo xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu trên hóa đơn thương mại thay cho C/O mẫu D (Khoản 1, Điều 3, Thông tư 28/2015/TT-BCT)

[5] Điều 4, Thông tư 28/2015/TT-BCT

[6]http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu–trao-doi/trao-doi-binh-luan/doanh-nghiep-tu-cap-c-o-tai-sao-khong-58389.html

Trên đây là 02 nội dung cuối về quy tắc xuất xứ hàng hóa được quy định tại Hiệp định ATIGA ; Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ chúng tôi qua các phương thức sau:

  1. Hotline Tư vấn: 1900.6815 - Phòng Pháp lý Doanh nghiệp: 1900.6815 (1) - Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính: 1900.6815 (2)
  2. Email: luatsu@patlawhcm.com
  3. Bạn có thể gửi hồ sơ hoặc trực tiếp đến Công ty Luật TNHH PATLAW. Địa chỉ: Số 11 đường số 2 - Khu đô thị Vạn Phúc 1, Khu phố 5, Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trân trọng./.

Người viết: Tr.Anh – (Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính)  

Liên hệ tư vấn

Lưu ý: Trước khi nhập thông tin Quý khách vui lòng tham khảo Chính sách bảo mật Thông tin Khách hàng được đăng tải trong Phần Giới thiệu của Patlaw.
Hoặc liên hệ hotline: 1900.6815