Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Thạc sỹ - Luật sư: Trương Thành Thiện

Công ty Luật TNHH PATLAW

1900.6815

Tổng đài tư vấn
Tìm kiếm

Tổng quan về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định ATIGA (phần 2)

  • 07/08/2019
  • 404 Lượt xem
  • Admin

Ở phần trước PATLAW đã khái quát sơ lược về những nét chung của Quy tắc xuất xứ hàng hóa theo pháp luật Cộng đồng Asean. Trong bài viết này chúng tôi muốn chia sẻ với các bạn về một số nội dung cụ thể về những quy định liên quan xuất xứ hàng hóa đề cập tại Hiệp định ATIGA.

3.1 Quy định về các khái niệm

  • Hiệp_định ATIGA định nghĩa các khái niệm như thế nào là:
  • Nghề nuôi trồng thuỷ sản [1]
  • Về chi phí, bảo hiểm và cước phí (CIF)[2]
  • Về FOB[3]
  • Nguyên tắc kế toán được áp dụng phổ biến (GAAP)[4]
  • Hàng hoá[5]
  • Nguyên vật liệu giống nhau và có thể thay thế cho nhau[6]
  • Nguyên vật liệu[7]
  • Hàng hoá có xuất xứ hoặc nguyên vật liệu có xuất xứ[8]
  • Vật liệu đóng gói và bao gói để vận chuyển[9]
  • Sản xuất[10]
  • Quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể[11]

3.2 Quy định về tiêu chí xuất xứ

Theo đó, hàng hóa xuất xứ ASEAN bao gồm hai loại: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ.

3.2.1 Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ

Được quy định cụ thể tại Điều 26 của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN[12]. Loại hàng hóa này được xác định có xuất xứ ASEAN theo tiêu chí “toàn bộ” (hay tiêu chí “hoàn toàn”).

Tiêu chí “toàn bộ” trong quy tắc xuất xứ của các quốc gia và các liên kết kinh tế quốc tế, thông thường đều được xác định ở “mức độ tuyệt đối”. Tức là hàng hóa phải hoàn toàn được sinh trưởng và thu hoạch ở nước xuất xứ hoặc được gia công hoàn toàn bằng các nguyên liệu của nước xuất xứ. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ theo quy định của ASEAN có thể phân thành các nhóm sau:

  • Nhóm 1: Nhóm hàng hóa là động thực vật sinh trưởng và được thu hoạch ở QGTV

+ Thực vật và các sản phẩm từ thực vật được trồng và thu hoạch ở QGTV[13].

+ Động vật sinh trưởng và được nuôi dưỡng tại QGTV xuất khẩu[14].

+ Hàng hóa thu được từ săn bắn, bẫy, câu, đánh bắt…tại QGTV[15]

  • Nhóm 2: Nhóm các hàng hóa phi sinh vật được khai thác ở QGTV

+ Khoáng sản và các sản phẩm tự nhiên khác[16]

+ Phế thải, phế liệu có nguồn gốc từ quá trình sản xuất của quốc gia đó[17]

+ Phế phẩm thu nhặt được tại QGTV được dùng làm nguyên liệu thô[18]

  • Nhóm 3: Nhóm các sản phẩm (bao gồm cả sinh vật và phi sinh vật) được khai thác, chế biến hoặc đánh bắt từ các vùng biển bằng tàu được đăng kí và treo cờ của QGTV

+ Được khai thác hoặc đánh bắt trong vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của QGTV hoặc trên vùng biển quốc tế.

+ Được khai thác, chế biến hoặc đánh bắt từ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ngoài lãnh hải QGTV, nơi mà quốc gia đó có quyền khai thác.[19]

  • Nhóm 4: Nhóm các sản phẩm chế tạo là các hàng hóa được sản xuất tại quốc gia xuất khẩu, hoàn toàn bằng các nguyên liệu thuộc các nhóm trên.[20]

Như vậy, tất cả các loại hàng hóa này đều là hàng hóa có xuất xứ thuần túy. Hàng hóa từ nhóm 1 đến nhóm 3 là hàng hóa có tính chất “xuất xứ thuần túy”, còn nhóm 4 là hàng hóa được “sản xuất toàn bộ”.

So với Hiệp định ATIGA thì các Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hóa ACFTA, AJFTA, AKFTA, AANZFTA, AIFTA đều quy định tương tự, không có điểm khác biệt đáng kể.

3.2.2 Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ

Hàng hóa loại này là những sản phẩm được sản xuất toàn bộ hoặc từ một phần nguyên vật liệu, bộ phận, phụ tùng nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ (gọi chung là nguyên liệu không rõ xuất xứ). Trong số đó, chỉ những sản phẩm được sản xuất, gia công hay chế biến đạt ở một “mức độ nhất định” hay “đáng kể” tại quốc gia xuất khẩu mới được coi là có xuất xứ của nước đó.

Hàng hóa, nguyên liệu có xuất xứ không thuần túy được coi là có xuất xứ ASEAN khi đáp ứng một trong bốn tiêu chuẩn sau:

3.2.2.1 Tiêu chuẩn hàm lượng giá trị khu vực (RVC)

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 ATIGA 2009, “hàng hóa được sản xuất tại quốc gia thành viên và có RVC không dưới 40% thì được coi là có xuất xứ ASEAN”. Hàm lượng giá trị ASEAN được tính theo một trong hai phương pháp sau:

+ Phương pháp trực tiếp

 RVC =

(Chi phí nguyên vật liệu ASEAN[21] + Chi phí nhân công trực tiếp[22] + Chi phí phân bổ trực tiếp[23]+ Chi phí khác + Lợi nhuận) X 100 %

———————————————————————————————-

Giá FOB[24]

 

               + Phương pháp gián tiếp

  

RVC =

Giá FOB Giá trị của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ[25]

  

x 100 %

————————————————————————–-

Giá FOB

Về việc áp dụng phương pháp tính RVC trực tiếp và gián tiếp hầu như ở các Hiệp định ACFTA, AJFTA, AKFTA, AANZFTA, AIFTA không có sự khác biệt đáng kể, thay vì trong ATIGA, ACFTA, AAFTA, AIFTA sử dụng thuật ngữ “Giá trị của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ” thì trong Hiệp định AJFTA và AKFTA dùng từ “VNM” [26].

Về điều kiện để được xem là có xuất xứ thì có một số điểm khác biệt giữa 06 hiệp định như sau:

+ Hiệp định ATIGA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA đều quy định RVC phải bằng hoặc trên 40% mới được xem là có xuất xứ, trong khi đó AIFTA chỉ quy định ở mức 35% là được xem là có xuất xứ.

+ Khi áp dụng tiêu chí RVC thì bên cạnh điều kiện RVC phải bằng  hoặc lớn hơn 40% thì Hiệp định ACFTA, AJFTA và AANZFTA buộc công đoạn sản xuất cuối cùng phải được thực hiện trong ranh giới của một nước thành viên, ngược lại Hiệp định ATIGA và AKFTA không đòi hỏi điều kiện này.

3.2.2.2  Tiêu chuẩn chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC)

Theo tiêu chuẩn này, hàng hóa được coi là có xuất xứ ASEAN nếu “tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ hàng hóa sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó đã trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) ở cấp 4 số của hệ thống hài hòa”[27]

Điểm khác với tiêu chuẩn RVC ở chỗ RVC dùng để định tỉ lệ phần trăm giá trị nội địa so với giá trị nhập khẩu trong tổng giá trị hàng hóa, còn tiêu chuẩn CTC được dùng để xác định xem, liệu các nguyên vật liệu (không phải là hàng hóa) không có xuất xứ đã được gia công chế biến đầy đủ tại quốc gia thành viên hay chưa.

Nếu muốn biết nguyên vật liệu không có xuất xứ này gia công chế biến tại QGTV đầy đủ hay chưa thì phải xác định theo nguyên tắc chung, cụ thể:

Hoạt động gia công, chế biến được coi là đầy đủ khi đã thay đổi thực chất được tính chất hoặc đặc tính riêng của nguyên liệu đã sử dụng và sự thay đổi đặc tính đó được xác định bằng phương pháp kỹ thuật là nguyên vật liệu đó đã được chuyển đổi mã số hàng hóa trong hệ thống hài hòa. [28]

Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) ở cấp độ 4 số (chuyển đổi nhóm) là thành phẩm sau này sẽ có mã số HS cấp 4 số khác với mã số của tất cả nguyên vật liệu nhập khẩu đã sử dụng hay nói khác hơn là thành phẩm không cùng nhóm với nguyên liệu đã sử dụng. Tiêu chuẩn này đã được Việt Nam đưa vào điều chỉnh theo Thông tư số 22/2016 của Bộ tài chính ngày 03/10/2016 quy định về việc thực hiện quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN.

Về tiêu chuẩn chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) đây là tiêu chuẩn mà nhà nhập khẩu hàng hoá quyền lựa chọn sử dụng bên cạnh quy tắc RCV hay SP để xem xét hàng hoá có đủ tiêu chuẩn là hàng hoá có xuất xứ của Quốc gia Thành viên. Quyền lựa chọn này đựơc cụ thể hóa tại điểm b, khoản 1, Điều 28 Hiệp định ATIGA.[29], trừ trường hợp sản phẩm đó bắt buộc phải tính theo tiêu chí RCV hoặc SP (sẽ trình bày ở phần tiếp theo).

So với Hiệp định ATIGA thì Hiệp định AKFTA, AJCEP, AANZFTA đều có thể áp dụng tiêu chí xuất xứ chung là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số (CTC). Trong khi đó, Hiệp định ACFTA áp dụng tiêu chí chung là RVC(40) để xác định có xuất xứ từ QGTV hay không cho cả hàng hóa và nguyên liệu đã sử dụng, còn Hiệp định AIFTA áp dụng tiêu chí CTSH (chuyển đổi mã số hàng hóa cấp 6 số tức là chuyển đổi phân nhóm hàng hóa).

Tiêu chí CTC chỉ áp dụng đối với nguyên liệu không có xuất xứ. Để đáp ứng tiêu chí này, nguyên liệu hoặc phụ tùng không có xuất xứ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa phải khác mã số hàng hóa (mã HS) của sản phẩm cuối cùng. Tiêu chí CTC được đưa ra nhằm đảm bảo các nguyên liệu không có xuất xứ trải qua công đoạn chuyển đổi trên lãnh thổ FTA để chứng minh hàng hóa được sản xuất trong lãnh thổ FTA.

3.2.2.3 Tiêu chí mặt hàng cụ thể

Trong thực tế có nhiều sản phẩm chuyển đổi mã số HS, nhưng thực chất chúng được gia công, chế biến tại quốc gia không là thành viên. Vì thế, các quốc gia FTA cũng ban hành danh mục các hoạt động, gia công, chế biến phải được thực hiện tại quốc gia xuất khẩu đối với các nguyên liệu nhập khẩu để thành phẩm và khi các nguyên liệu không có xuất xứ này được gia công, chế biến tại QGTV thì chúng được chuyển đổi mã HS và được xem là có xuất xứ, sau đây tiêu chuẩn này được gọi là tiêu chuẩn công đoạn gia công đặc biệt (SP)[30] thuộc tiêu chí mặt hàng cụ thể. Đây có thể được xem là một trong các điều kiện bổ sung cho tiêu chuẩn CTC.

Tùy vào từng hiệp định FTA sẽ quy định về quy tắc xuất xứ cụ thể cho một số mặt hàng nhất định. Các quy tắc này quy định một quy trình hàng hóa cần phải trải qua để được coi là có xuất xứ.

Đối với quy tắc cụ thể mặt hàng, về cơ bản, các tiêu chí xuất xứ giữa các hiệp định là khác nhau do ASEAN phải đàm phán với các đối tác khác nhau. Sự khác biệt của các tiêu chí xuất xứ cũng phụ thuộc một phần vào cam kết cắt giảm thuế quan của các mặt hàng này. Hầu hết các hiệp định đều có quy định cụ thể về tiêu chí này, trừ AJCEP chỉ quy định cho sản phẩm dệt may (Điều 24) và AANZFTA quy định cho phản ứng hóa học.

3.2.2.4 Tiêu chuẩn cộng gộp

Trong nguyên vật liệu và các công đoạn sản suất hàng hóa liên quan đến nhiều quốc gia ASEAN thì xuất xứ ASEAN của hàng hóa có thể được xác định theo tiêu chuẩn cộng gộp như sau:

  • Hàng hóa có xuất xứ từ một QGTV, được sử dụng làm nguyên liệu tại lãnh thổ của QGTV khác để sản suất ra một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan sẽ được coi là có xuất xứ của QGTV sản xuất ra sản phẩm đó.
  • Nếu RVC của nguyên liệu này (hàng hóa được nói đến ở trên) nhỏ hơn 40%, hàm lượng giá trị ASEAN này sẽ được cộng gộp theo đúng tỉ lệ thực tế vào hàm lượng nội địa với điều kiện hàm lượng giá trị ASEAN này bằng hoặc lớn hơn hai mươi phần trăm (20%).[31]

Về vấn đề cộng gộp, so với Hiệp định ATIGA thì các Hiệp định ACFTA[32], AKFTA[33], AJFTA[34], AANZFTA[35]áp dụng quy định cộng gộp toàn bộ khi hàm lượng giá trị của nguyên liệu có xuất xứ đạt 40% trở lên, chỉ có quy tắc xuất xứ trong Hiệp định ATIGA có quy định cộng gộp đúng tỉ lệ thực tế vào hàm lượng nội địa với điều kiện nguyên liệu đó có RVC lớn hơn hoặc bằng 20%.

[1] “Nghĩa là việc nuôi trồng các sinh vật dưới nước bao gồm cá, loài động vật thân mềm, loài giáp xác, loài động vật không xương sống và các loài thực vật dưới nước khác, từ nguồn giống như là trứng, cá giống, cá con và ấu trùng, bằng việc can thiệp vào quá trình nuôi trồng hoặc các khâu sinh trưởng để tăng sản lượng như dự trữ liên tục, cho ăn, hoặc bảo vệ khỏi các loài động vật ăn thịt” (mục a, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[2] “Nghĩa là giá trị của hàng hoá nhập khẩu, và bao gồm chi phí vận tải và bảo hiểm đến cảng hoặc địa điểm nhập cảnh vào nước nhập khẩu” (mục b, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[3] “Nghĩa là giá trị của hàng hoá được giao tại boong tàu, bao gồm chi phí vận tải đến cảng hoặc khu vực giao hàng cuối cùng tại nước ngoài” (mục c, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[4] “Nghĩa là sự đồng thuận được công nhận và sự ủng hộ đáng kể từ các cấp có thẩm quyền tại lãnh thổ của Quốc gia Thành viên, dưới sự tôn trọng việc ghi nhận doanh thu, phí tổn, chi phí, tài sản và công nợ; việc công bố thông tin; và việc chuẩn bị các báo cáo tài chính. Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các nguyên tắc lớn của việc áp dụng chung cũng như các chuẩn mực chi tiết, việc thực hành và các thủ tục” (mục d, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[5] “Bao gồm các nguyên liệu và/hoặc sản phẩm, có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ, kể cả những sản phẩm có thể sẽ được sử dụng làm nguyên vật liệu cho một quá trình sản xuất khác sau này” (mục e, Điều 27 HĐ ATIGA 2009).

[6] “Nghĩa là những nguyên vật liệu cùng loại và có chất lượng như nhau, có cùng đặc tính vật lý và kỹ thuật, và sau khi các nguyên vật liệu này được kết hợp lại để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh thì không thể chỉ ra sự khác biệt về xuất xứ vì bất kỳ sự ghi nhãn nào” (mục f, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[7] “Nghĩa là vật phẩm hoặc vật chất được sử dụng hoặc tiêu dùng trong quá trình sản xuất hàng hoá hoặc được kết hợp tự nhiên với một hàng hoá khác hoặc tham gia vào một quy trình sản xuất ra hàng hóa khác” (mục g, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[8] “Nghĩa là hàng hoá hoặc nguyên vật liệu đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo các quy định của Chương này” (mục h, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[9] “Nghĩa là hàng hoá được sử dụng để bảo vệ sản phẩm trong quá trình vận chuyển sản phẩm đó mà không phải là vật liệu đóng gói và bao gói chứa đựng hàng hóa dùng để bán lẻ” (mục i, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[10] “Nghĩa là là các phương thức để tạo ra hàng hoá bao gồm trồng trọt, khai thác, thu hoạch, chăn nuôi, gây giống, chiết xuất, thu lượm, thu nhặt, săn bắt, đánh bắt, đánh bẫy, săn bắn, chế tạo, sản xuất, gia công hay lắp ráp” (mục j, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[11] “Nghĩa là quy tắc yêu cầu nguyên liệu phải trải qua quá trình thay đổi mã số hàng hoá hoặc trải qua công đoạn gia công, chế biến của hàng hoá, hoặc phải đáp ứng tiêu chí Hàm lượng giá trị khu vực hoặc kết hợp giữa các tiêu chí nêu trên” (mục k, Điều 25 HĐ ATIGA 2009).

[12] Điều 26. Tiêu chí xuất xứ, Hiệp định ATIGA 2009

Vì mục đích của Hiệp định này, một hàng hoá được nhập khẩu vào lãnh thổ của một Quốc gia Thành viên từ Quốc gia Thành viên khác phải được đối xử như một hàng hoá có xuất xứ nếu hàng hóa đó đáp ứng một trong các quy định về xuất xứ dưới đây:

(a) hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một Quốc gia Thành viên xuất khẩu như trình bày và định nghĩa trong Điều 27 (Hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ); hay

(b) hàng hoá có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu, với điều kiện hàng hoá này phù hợp với Điều 28 (Hàng hoá có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ) hoặc Điều 30 (xuất xứ cộng gộp).

[13] “Thực vật và các sản phẩm từ thực vật, bao gồm trái cây, hoa, rau, cây, tảo biển, nấm và các thực vật sống, được trồng và thu hoạch, hái và thu lượm tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu” (mục a, Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[14] “Động vật sống, bao gồm động vật có vú, chim, cá, loài giáp xác, loài không xương sống, loài bò sát, vi khuẩn và vi rút, sinh trưởng và được nuôi dưỡng tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu” (mục b, Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[15] “Hàng hoá thu được từ Quốc gia Thành viên xuất khẩu; Hàng hoá thu được từ săn bắn, bẫy, câu, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, thu gom và đánh bắt được tiến hành tại Quốc gia Xuất khẩu thành viên” (mục c, d, Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[16] “Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác, chưa được liệt kê từ khoản (a) đến (d) của Điều này và được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển” (mục e, Điều 27 Hiệp định ATIGA)

[17] “Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ:

(i) quá trình sản xuất tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu; hoặc

(ii) hàng hoá đã qua sử dụng được thu nhặt tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu; với điều kiện những hàng hoá đó chỉ phù hợp làm nguyên vật liệu thô” (mục j, Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[18] “Các vật phẩm được thu nhặt tại nước đó nhưng không còn thực hiện được những chức năng ban đầu hoặc cũng không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế” (mục i, Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[19] “Sản phẩm đánh bằng tàu được đăng ký với một Quốc gia Thành viên và có treo cờ của Quốc gia Thành viên đó và các sản phẩm  khác (chỉ các khoáng sản và các chất hình thành tự nhiên khác ) được khai thác từ vùng lãnh hải, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài vùng lãnh hảỉ ví dụ Vùng đặc quyền kinh tế, sản phẩm được coi là có xuất xứ của Quốc gia Thành viên nếu tàu khai thác sản phẩm đó được đăng ký tại Quốc gia Thành viên và treo cờ của Quốc gia Thành viên đó, với điều kiện là Quốc gia Thành viên đó có quyền khai thác vùng đó theo luật quốc tế

Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác được đánh bắt từ vùng biển cả bằng được đăng ký với một Quốc gia Thành viên và được phép treo cờ của Quốc gia Thành viên đó

Sản phẩm được chế biến và/hoặc được sản xuất ngay trên tàu được đăng ký với một Quốc gia Thành viên và được phép treo cờ của Quốc gia Thành viên đó, trừ các sản phẩm được quy định trong khoản (g) của Điều này” (mục f, g, h Điều 27 Hiệp định ATIGA 2009)

[20] “Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại Quốc gia Thành viên xuất khẩu từ các sản phẩm được quy định từ khoản (a) đến (j) của Điều này” (mục k, Điều 27 Hiệp định ATIGA)

[21] Chi phí nguyên vật liệu ASEAN là giá CIF của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá thu được hoặc được tự sản xuất bởi nhà sản xuất trong quá trình sản xuất hàng hoá

[22] Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương, thù lao và các khoản phúc lợi khác cho người lao động liên quan đến quá trình sản xuất

[23] Việc tính toán chi phí phân bổ trực tiếp phải bao gồm, nhưng không giới hạn, các hạng mục tài sản thực liên quan tới quá trình sản xuất (bảo hiểm, chi phí thuê và thuê mua nhà máy, khấu hao nhà xưởng, sửa chữa và bảo trì, thuế, lãi cầm cố); các khoản thuê mua và trả lãi của nhà máy và thiết bị; an ninh nhà máy, bảo hiểm (nhà máy, thiết bị và nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hoá); các chi phí tiện ích (năng lượng, điện, nước và các chi phí tiện ích khác đóng góp trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hoá); nghiên cứu, phát triển, thiết kế và chế tạo; khuôn rập, khuôn đúc, việc trang bị dụng cụ và khấu hao, bảo trì và sửa chữa của nhà máy và thiết bị; tiền bản quyền sáng chế (có liên quan đến máy móc hoặc quy trình sản xuất có bản quyền hoặc quyền sản xuất hàng hoá); kiểm tra và thử nghiệm nguyên vật liệu và hàng hoá, lưu trữ và sắp xếp trong nhà máy; xử lý các chất thải có thể tái chế; và các yếu tố chi phí trong việc tính toán giá trị của nguyên vật liệu thô như chi phí cảng, chi phí giải phóng hàng và thuế nhập khẩu phải trả cho các thành phần chịu thuế

[24] Giá FOB nghĩa là giá trị hàng hóa sau khi được giao qua lan can tàu như định nghĩa tại Điều 25. Giá FOB được xác định bằng cách cộng giá trị của các nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, lợi nhuận và các chi phí khác.

[25] Giá trị nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ là:

(i) Giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của hàng hoá hoặc thời điểm nhập khẩu được chứng minh; hoặc

(ii) Giá xác định ban đầu trả cho hàng hoá không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của Quốc gia Thành viên nơi diễn ra hoạt động sản xuất hoặc chế biến

[26] Được hiểu là giá trị nguyên vật liệu đầu vào không có xuất xứ có thể là: (i) giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của nguyên vật liệu, phụ tùng-bộ phận hoặc hàng hóa; hoặc (ii) giá nguyên vật liệu, phụ tùng-bộ phận đầu vào hoặc hàng hóa chưa xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của một nước nơi thực hiện các công đoạn gia công, chế biến

[27]Điều 28Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ, Hiệp định ATIGA 2009

“1. (a) Vì mục đích của Điều 26(b), hàng hoá được coi là có xuất xứ tại Quốc gia Thành viên nơi diễn ra việc sản xuất hoặc chế biến hàng hoá đó:

……………………..

(ii) nếu tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó đã trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hoá (được nêu ở dưới đây là “CTC”) ở cấp bốn số của Hệ thống hài hoà.”

[28] Hệ thống hài hòa hay còn được gọi là hệ thống HS hoặc hệ thống hài hòa mô tả và mã số hàng hóa đây là hệ thống tên gọi và mã số hàng hóa được tiêu chuẩn hóa quốc tế, dùng để phân loại hàng háo. Tùy tên gọi, mô tả về tính chất, thành phần, cấu tạo, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hóa để xác định, sắp xếp hàng hóa vào ãm số nhất định trên cơ sở các quy tắc của hệ thống hài hòa đó. Trong mỗi hệ thống mã số và mô tả hàng hóa, thông thường, cấp độ 4 số là mã hiệu của nhóm hàng, 6 số là mã hiệu của phân nhóm hàng 6 số, 8 số là mã hiệu của phân nhóm 8.

[29] Điều 28Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ

“1. (a) Vì mục đích của Điều 26(b), hàng hoá được coi là có xuất xứ tại Quốc gia Thành viên nơi diễn ra việc sản xuất hoặc chế biến hàng hoá đó:

(i) nếu hàng hoá có hàm lượng giá trị khu vực (sau đây được gọi là “Hàm lượng giá trị ASEAN” hoặc “Hàm lượng giá trị khu vực (RVC)”) không dưới bốn mươi phần trăm (40%) tính theo công thức nêu tại Điều 29; hoặc

(ii) nếu tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó đã trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hoá (được nêu ở dưới đây là “CTC”) ở cấp bốn số của Hệ thống hài hoà.

(b) Mỗi Quốc gia Thành viên phải cho phép nhà nhập khẩu hàng hoá được quyết định sử dụng khoản 1(a)(i) hoặc 1(a)(ii) của Điều này khi quyết định liệu hàng hoá có đủ tiêu chuẩn là hàng hóa có xuất xứ của Quốc gia Thành viên đó hay không.

….”

[30] “Bất chấp đoạn 1 của Điều này, hàng hoá được liệt kê trong Phụ lục 3 [Danh mục Tiêu chí xuất xứ sản phẩm cụ thể] đủ tiêu chuẩn là hàng hoá có xuất xứ nếu hàng hoá đó thoả mãn những quy tắc chi tiết hoá sản phẩm nêu tại đó”(điểm a, khoản 2, Điều 28 Hiệp định ATIGA 2009)

[31] Điều 30, Hiệp định ATIGA 2009

[32] Quy định tại quy tắc 5 – phụ lục 3, Hiệp định ACFTA

[33] Quy tắc 7, Hiệp địnhAKFTA

[34] Điều 29, Hiệp định AJFTA

[35] Điều 6, Hiệp định AANZFTA

Trên đây là nội dung trao đổi về 02 trên 04 quy định trong quy tắc xuất xứ hàng hóa tại Hiệp định ATIGA; Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ chúng tôi qua các phương thức sau:

  1. Hotline Tư vấn: 1900.6815 - Phòng Pháp lý Doanh nghiệp: 1900.6815 (1) - Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính: 1900.6815 (2)
  2. Email: luatsu@patlawhcm.com
  3. Bạn có thể gửi hồ sơ hoặc trực tiếp đến Công ty Luật TNHH PATLAW. Địa chỉ: Số 11 đường số 2 - Khu đô thị Vạn Phúc 1, Khu phố 5, Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trân trọng./.

Người viết: Tr.Anh – (Phòng Tố tụng và Dịch vụ Hành chính)  

 

Liên hệ tư vấn

Lưu ý: Trước khi nhập thông tin Quý khách vui lòng tham khảo Chính sách bảo mật Thông tin Khách hàng được đăng tải trong Phần Giới thiệu của Patlaw.
Hoặc liên hệ hotline: 1900.6815